Tra nhanh đường kính lỗ khoan mồi cho ren hệ mét thô từ M2 đến M24, kèm công thức tính và những lưu ý giúp taro ăn ren đều và bền hơn.
Khoan mồi đúng đường kính là bước quyết định chất lượng đường ren và tuổi thọ của mũi taro. Lỗ mồi quá nhỏ khiến taro phải cắt quá nhiều vật liệu, dễ bó và gãy; lỗ mồi quá lớn làm ren nông, không đủ độ bám và giảm sức chịu tải của mối ghép. Bảng dưới đây cho bạn đường kính mũi khoan mồi tiêu chuẩn cho từng cỡ ren hệ mét bước thô, dùng được trực tiếp tại xưởng.
Công thức tính đường kính mũi khoan mồi
Với ren hệ mét bước thô, đường kính lỗ mồi được tính theo công thức đơn giản: đường kính lỗ mồi = đường kính danh nghĩa − bước ren.
Ví dụ với ren M8 bước 1,25: lấy 8 trừ 1,25 được 6,75, làm tròn theo cỡ mũi khoan sẵn có thành mũi khoan Ø6.8. Cách tính này cho đường ren gần đầy đủ, đủ độ bám mà taro vẫn cắt nhẹ nhàng. Nếu muốn ren bám sâu hơn cho các mối ghép chịu lực lớn, có thể chọn mũi khoan nhỏ hơn một cỡ, nhưng đổi lại lực cắt tăng và mũi taro chịu tải nặng hơn.
Chiều sâu khoan mồi — điểm hay sai với lỗ mù
Với lỗ thông suốt, chiều sâu không phải bận tâm vì mũi khoan xuyên hết chiều dày chi tiết. Nhưng với lỗ mù, chiều sâu khoan mồi phải lớn hơn chiều sâu ren cần dùng, nếu không mũi taro sẽ chạm đáy trước khi tạo đủ ren và gãy ngay tại đó. Hình dưới thể hiện ba phần cấu thành chiều sâu khoan mồi ở một lỗ mù.
Tổng chiều sâu khoan mồi được chia thành ba phần. Trên cùng là chiều sâu ren dùng được, tức đoạn ren thực sự ăn tải cho mối ghép. Ở giữa là khoảng chứa phoi, nơi phoi cắt dồn xuống trong quá trình taro, đặc biệt quan trọng với taro thẳng vì loại này đẩy phoi xuống dưới. Dưới cùng là phần côn đáy do đầu nhọn của mũi khoan để lại, đoạn này không có đường kính trụ đủ nên không tính vào chiều sâu ren dùng được.
Công thức: chiều sâu khoan mồi = chiều sâu ren dùng được + khoảng chứa phoi + phần côn đáy.
Quy tắc thực dụng tại xưởng: khoan sâu hơn chiều sâu ren cần dùng khoảng ba đến năm bước ren khi dùng taro thẳng, để có đủ chỗ chứa phoi và chừa cho phần đầu dẫn hướng của taro. Với taro xoắn, do phoi được đẩy ngược lên trên nên khoảng dự phòng có thể ít hơn. Phần côn đáy của mũi khoan chiếm thêm khoảng một phần ba đường kính mũi khoan tính theo chiều sâu, cũng cần cộng vào.
Một điểm nhiều người bỏ qua: chiều sâu ren ăn tải thực tế thường chỉ cần khoảng một đến một phẩy năm lần đường kính ren là đủ chịu lực khi bắt vào thép, và có thể sâu hơn với vật liệu mềm như nhôm hay gang. Taro sâu quá mức này hầu như không tăng thêm sức bền mối ghép mà chỉ kéo dài thời gian gia công và tăng rủi ro gãy taro.
Vì sao chọn đúng mũi khoan mồi lại quan trọng
Phần lớn các trường hợp gãy taro tại lỗ mù hoặc ren bị tuôn đều bắt nguồn từ khâu khoan mồi sai. Khi lỗ mồi hụt đường kính, mũi taro phải gạt đi lượng vật liệu vượt thiết kế, sinh nhiệt và mô-men xoắn lớn, dẫn tới bó cứng rồi gãy ngay trong lỗ. Ngược lại, lỗ mồi rộng quá làm chiều cao ren giảm, mối ghép lỏng và dễ tuôn khi siết.
Chọn mũi khoan và taro đồng bộ
Để ren đạt chất lượng ổn định, mũi khoan mồi và mũi taro nên đồng bộ về cấp vật liệu và phù hợp với vật liệu gia công. Yutaka phân phối chính hãng mũi khoan và taro của Nachi, OSG và Yamawa, đủ dải cỡ cho ren hệ mét thông dụng cùng các cấp vật liệu từ thép gió đến hợp kim cứng, đáp ứng cho cả gia công thép thường lẫn các vật liệu khó như thép không gỉ.
Cần tư vấn chọn mũi khoan mồi và taro cho vật liệu của bạn?
Đội ngũ kỹ thuật Yutaka hỗ trợ chọn đúng cỡ mũi khoan mồi và dòng taro theo vật liệu và loại lỗ, giúp ren đạt chuẩn và tránh gãy taro.
Bài viết liên quan
Cách chọn taro theo vật liệu gia công · Nguyên nhân gãy taro trong lỗ mù và cách khắc phục · Tốc độ cắt khi khoan theo vật liệu · Phân biệt taro xoắn và taro thẳng · Khoan và taro thép tấm mỏng